Bài 1: PHÁP LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG
1. Khái niệm pháp luật.
a. Pháp luật là gì?
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
b. Các đặc trưng của pháp luật.
-Pháp luật có tính quy phạm phổ biến: ( quy phạm:khuôn mẫu, phổ biến: áp dụng nhiều lần, nhiều người, nhiều nơi).
Vì pháp luật là những quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu chung, được áp dụng nhiều lần, ở nhiều nơi, đối với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
+ Đây cũng là ranh giới để phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác.
+ Tính quy phạm phổ biến làm nên giá trị công bằng, bình đẳng trước pháp luật.
Ví dụ: Phân biệt nội quy trường học, đoàn thanh niên không phải văn bản pháp luật vì không mang tính phổ biến.
- Pháp luật mang tính quyền lực, bắt buộc chung, vì :
+ Pháp luật do nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước.
+Pháp luật là quy định bắt buộc đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức, ai cũng phải xử sự theo pháp luật.
Ví dụ: Luật quy định đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy – nếu không đội bị xử lí nghiêm.
- Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, vì hình thức thể hiện của pháp luật là các văn bản có chứa các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành..Văn bản này gọi là văn bản quy phạm pháp luật
+ Phải được diễn đạt chính xác, một nghĩa để ai đọc cũng hiểu được đúng và thực hiện chính xác.
+ Cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền ban hành những hình thức văn bản nào đều được quy định chặt chẽ trong Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
+ Nội dung tất cả các văn bản pháp luật đều phù hợp, không trái với Hiến pháp nhằm tạo nên tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
2. Bản chất của pháp luật.
a. Bản chất giai cấp của pháp luật.
- Các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành phù hợp với ý chí của giai cấp cầm quyền mà nhà nước là đại diện.
- Nhà nước Việt Nam đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
b. Bản chất xã hội của pháp luật:
*Pháp luật mang bản chất xã hội vì pháp luật bắt nguồn từ xã hội, do các thành viên của xã hội thực hiện, vì sự phát triển của xã hội .
Ví dụ: “Thuận mua, vừa bán” và giữ chữ “tín” là quy tắc xử sự hàng ngày quy định trong Luật dân sự: Tự do, tự nguyện, bình đẳng,...
3. Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức.
Quan hệ giữa pháp luật với đạo đức
- Trong hàng loạt các quy phạm pháp luật luôn thể hiện các quan niệm về đạo đức mang tính phổ biến nhất là các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, văn hoá, xã hội, giáo dục.
- Pháp luật là phương tiện đặc thù để thể hiện và bảo vệ các giá trị đạo đức.
- Những giá trị cơ bản nhất của pháp luật – công bằng, bình đẳng, tự do, lẽ phải cũng là những giá trị đạo đức cao cả mà con người luôn hướng tới.
4. Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội.
a. Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lí xã hội.
- Không có pháp luật xã hội sẽ không có trật tự, ổn định, không thể tồn tại và phát triển được.
- Nhờ có pháp luật vì nhà nước sẽ phát huy được quyền lực của mình và kiểm tra, kiểm soát được các hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan trong phạm vi lãnh thổ của mình.
- Pháp luật là phương tiện quản lí dân chủ và hiệu quả nhất.
- Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật là Nhà nước phải ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật trên quy mô toàn xã hội, đưa pháp luật vào đời sống của từng người dân và của toàn xã hội.
b. Pháp luật là phương tiện để công dân thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định rõ công dân được phép làm gì. Căn cứ vào các quy định này công dân thực hiện quyền của mình.
- Các văn bản pháp luật về hành chính, khiếu nại và tố cáo, hình sự, tố tụng, trong đó quy định thẩm quyền, nội dung, hình thức, thủ tục giải quyết các tranh chấp, khiếu nại và xử lí các vi phạm pháp luật xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Căn cứ vào đây công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bài 2: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
1.Khái niệm, các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật.
a. Khái niệm thực hiện pháp luật.
- Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân tổ chức.
b.Các hình thức thực hiện pháp luật.
- Sử dụng pháp luật: Các cá nhân, tổ chức sử dụng đúng đắn các quyền của mình, làm những gì mà pháp luật cho phép làm.
VD: công dân có quyền tự do kinh doanh….
- Thi hành pháp luật: Các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm.
VD: Công dân có nghĩa vụ đóng thuế, tham gia NVQS ,...
- Tuân thủ pháp luật: Các cá nhân, tổ chức kiềm chế để không làm những điều mà pháp luật cấm.
VD: công dân không được kinh doanh hàng giả, hàng lậu
- Áp dụng pháp luật: Các cơ quan, công chức có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức.
VD: UBND phường cấp giầy đăng kí kết hôn cho vc khi đã làm thủ tục đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật, cảnh sát giao thông xử lí những đối tượng vi phạm giao thông
2. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí.
a. Vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản sau:
- Thứ nhất, đó là hành vi trái pháp luật
+Hành vi đó có thể là:
* Hành động: Làm những việc không được làm theo quy định của pháp luật.
Vd: Vượt đèn đỏ
* Không hành động :Không làm những việc phải làm theo quy định của pháp luật.
VD: Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông
+ Hành vi đó xâm phạm, gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
VD: chặt phá hoặc đốt rừng
- Thứ hai, do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện .
Năng lực trách nhiệm pháp lí được hiểu là khả năng của người đã đạt một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có thể nhận thức, điều khiển và chịu trách nhiệm về việc thực hiện hành vi của mình.
*Những người tâm sinh lí sức khỏa không bình thường: Những người mắc các bệnh về thần kinh là những người không có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý vì không nhận thức được hành vi của minh gây ra, hoạc trẻ em( mặc dù nhận thức được hành vi mình gây ra nhưng không nhận thức được hậy quả của nó)
- Thứ ba, người vi phạm pháp luật phải có lỗi.
Lỗi thể hiện thái độ của người biết hành vi của mình là sai, trái pháp luật, có thể gây hậu quả không tốt nhưng vẫn cố ý làm hoặc vô tình để mặc cho sự việc xảy ra.
Lỗi bao gồm:
+ Vô ý: Do cẩu thả, quá tự tin
+ Cố ý: Do gián tiếp, do trực tiếp
*Kết luận: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
b.Trách nhiệm pháp lí.
*Trách nhiệm pháp lí là nghĩa vụ của các chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế do Nhà nước áp dụng.
*Trách nhiệm pháp lí được áp dụng nhằm:
- Buộc các chủ thể vi phạm pháp luật chấm dứt hành vi trái pháp luật
- Giáo dục, răn đe những người khác để họ tránh, hoặc kiềm chế những việc làm trái pháp luật
c. Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí.
Có 4 loại vi phạm pháp luật tương ứng 4 loại trách nhiệm pháp lí.
*Vi phạm hình sự
Là những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự.
- Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự thể hiện ở việc chấp hành hình phạt theo quyết định của Tòa án: giết người, hiếp dâm, cố ý gây thương tích, lây truyền HIV, cướp tài sản,...
+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
+ Việc xử lí người chưa thành niên ( đủ 14 đến dưới 18 tuổi) theo nguyên tắc lấy giáo dục, răn đe là chủ yếu.
*Vi phạm hành chính
Là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước.
- Người vi phạm phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật: đi xe ngược chiều, vượt đèn đỏ,...
+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý.
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra.
* Vi phạm dân sự
Là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân .
- Người có hành vi dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự:
+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, có các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập và thực hiện.
* Vi phạm kỉ luật
Là vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ lao động, công vụ nhà nước...do pháp luật lao động, pháp luật hành chính bảo vệ.
- Cán bộ, công chức vi phạm kỉ luật phải chịu trách nhiệm kỉ luật với các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyển công tác khác, buộc thôi việc.
Bài 3: CÔNG DÂN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là mọi công dân, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lí theo quy định của pháp luật.
1.Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
* Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ có nghĩa là bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.
Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
- Mọi công dân đều được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
+ Quyền: bầu cử, ứng cử, quyền sở hữu, quyền thừa kế, các quyền tự do cơ bản, các quyền dân sự, chính trị khác....
+ Nghĩa vụ: Bảo vệ Tổ quốc, đóng thuế, lao động ...
- Quyền và nghĩa vụ công dân không bị phân biệt bởi dân tộc, giới tính, tôn giáo, giàu, nghèo, thành phần, địa vị xã hội.
- Trong cùng môt điều kiện như nhau, công dân được hưởng quyền và có nghĩa vụ như nhau, nhưng mức độ sử dụng phụ thuộc vào khả năng, điều kiện, hoàn cảnh.
2.Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí.
* Bình đẳng về trách nhiệm pháp lí là bất kì công dân nào vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình và phải bị xử lí theo quy định của pháp luật.
- Công dân dù ở địa vị nào, làm nghề gì khi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lí (trách nhiệm hành chính, dân sự, hình sự, kỉ luật)
VD: Liên hệ vụ tham nhũng của ông Trinh xuân Thanh, Cục trưởng cục quân nhu, đại tá Trần Dụ Châu, trong cuộc kháng chiến chống pháp
- Khi công dân vi phạm pháp luật với tính chất và mức độ như nhau đều phải chịu trách nhiệm pháp lí như nhau, không phân biệt đối xử.
3.Trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ công dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.
- Nhà nước và xã hội có trách nhiệm cùng tạo ra các điều kiện vật chất, tinh thần để đảm bảo cho công dân có khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
- Nhà nước xử lí nghiêm minh những hành vi vi phạm quyền và lợi ích của công dân và của xã hội.
Bài 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình.
a. Thế nào là bình đẳng trong hôn nhân và gia đình.
* Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình được hiểu là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng và các thành viên trong gia đình trên cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn tròn lẫn nhau, không phân biệt đối xử trong các mối quan hệ ở phạm vi gia đình và xã hội.
b. Nội dung về bình đẳng trong hôn nhân và gia đình.
* Bình đẳng giữa vợ và chồng:
- Trong quan hệ nhân thân:
+ Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc lựa chọn nơi cư trú.
+ Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhau.
+ Tôn trọng giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
+ Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.
- Trong quan hệ tài sản:
+ Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, thể hiện ở các quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt.
+ Vợ chồng có quyền có tài sản riêng theo quy định của pháp luật, thể hiện ở các quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt.
* Bình đẳng giữa cha mẹ và con.
- Cha mẹ phải thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con. Tôn trọng ý kiến con, chăm lo cho con phát triển về vật chất và tinh thần.
- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con, cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi hành hạ, xúc phạm con (kể cả con nuôi); không lạm dụng sức lao động; không xúi giục con VPPL.
- Con có bổn phận yêu quý, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, không được có hành vi ngược đvi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
* Bình đẳng giữa ông bà và cháu.
- Ông bà có nghĩa vụ và quyền như nhau đối với cháu: trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho các cháu;
- Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà.
*Bình đẳng giữa anh, chị, em.
Anh chị em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ, hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
2.Bình đẳng trong lao động.
a. Thế nào là bình đẳng trong lao động.
*Bình đẳng trong lao động được hiểu là bình đẳng giữa mọi công dân trong thực hiện quyền lao động thông qua việc tìm kiếm việc làm, bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua hợp đồng lao động, bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ trong từng cơ quan, doanh nghiệp và trong phạm vi cả nước.
b. Nội dung về bình đẳng trong lao động.
* Công dân bình đẳng trong thực hiện quyền lao động.
- Mọi người đều có quyền làm việc, tự do tìm việc làm và nghề nghiệp phù hợp với khả năng của mình.
- Không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, nguồn gốc gia đình, thành phần kinh tế.
- Người lao động phải đủ tuổi theo quy định của pháp luật Lao động. (15 tuổi: lao động, 18 tuổi: sử dụng sức lao động)
- Người có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao được Nhà nước và người sử dụng lao động ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tài năng.
* Công dân bình đẳng trong giao kết hợp đồng lao động.
- Quyền bình đẳng của công dân được thực hiện thông qua Hợp đồng lao động
- Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
- Nguyên tắc: Tự do, tự nguyện, bình đẳng.
- Mỗi bên có trách nhiệm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình.
*Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ.
- Bình đẳng về cơ hội tiếp cận việc làm; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng; được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.
- Lao động nữ được quan tâm đến đặc điểm về cơ thể, sinh lí và chức năng làm mẹ trong lao động nên có những quy định riêng...Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với lao động nữ vi lí do mang thai, kết hôn, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi,...
3. Bình đẳng trong kinh doanh
a) Thế nào là bình đẳng trong kinh doanh
- Là mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, từ việc lựa chọn ngành, nghề, địa điểm kinh doanh, lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh đều bình đẳng theo qui định PL.
b) Nội dung quyền bình đẳng trong kinh doanh
- Thứ nhất: Mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh theo sở thích và khả năng, nếu có đủ điều kiện.
- Thứ 2: Mọi doanh nghiệp đều có quyền tự chủ đăng kí kinh doanh trong những ngành, nghề mà PL không cấm .
- Thứ 3: Mọi loại hình doanh nghiệp đều bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh,
- Thứ 4: Mọi doanh nghiệp đều bình đẳng về quyền chủ động mở rộng qui mô và ngành, nghề kinh doanh.
- Thứ 5: Mọi doanh nghiệp đều bình đẳng về nghĩa vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bài 5: QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO
1. Bình đẳng giữa các dân tộc
a) Thế nào là bình đẳng giữa các dân tộc
- Dân tộc được hiểu theo nghĩa là một bộ phận dân cư quốc gia.
* Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là: các dân tộc trong một quốc gia không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ văn hoá, không phân biệt chủng tộc, màu da...đều được Nhà nước và PL tôn trọng, bảo vệ và tạo đk phát triển.
b) Nội dung bình đẳng giữa các dân tộc
- Các dân tộc Việt Nam đều được bình đẳng về chính trị
* - Công dân tham gia quản lí nhà nước và xã hội,
- Tham gia bộ máy nhà nước, thảo luận,
- Tham gia thảo luận,góp ý các vấn đề chung, không phân biệt dt, tôn giáo...
- Các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ VN không phân biệt đa số, thiểu số, không phân biệt trình độ phát triển đều có đại biểu của mình trong các cơ quan nhà nước.
- Các dân tộc Việt Nam đều được bình đẳng về kinh tế
* - Thể hiện ở chính sách KT của Nhà nước không phân biệt giữa các dt;
- Nhà nước luôn quan tâm đấu tư phát triển KT đối với tất cả các vùng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dt thiểu số.
- Không phân biệt giữa dân tộc đa số và thiểu số
- Để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về KT giữa các vùng, Nhà nước ban hành các chương trình phát triển KT- XH đối với các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dt và miền núi, thực hiện cs tương trợ, giúp nhau cùng phát triển.
- Các dân tộc Việt Nam đều được bình đẳng về văn hoá, giáo dục
* Các dt có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình; phong tục, tập quán, truyền thống vh được bảo tồn, giữ gìn, khôi phục, phát huy, phát triển là cơ sở củng cố sự đoàn kết, thống nhất toàn dân tộc.
* Nhà nước tạo mọi điều kiện để công dân thuộc các dân tộc khác nhau đều được bình đẳng về cơ hội học tập.
c) Ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các dân tộc
* Bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở đoàn kết giữa các dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc. Không có bình đẳng thì không có đoàn kết thực sự.
* Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là sức mạnh đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng văn minh”.
2. Bình đẳng giữa các tôn giáo.
a. Khái niệm bình đẳng giữa các tôn giáo.
* Quyền bình đẳng giữa các tôn giáo ở VN đều có quyền hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ của pháp luật; đều bình đẳng trước pháp luật; những nơi thờ tự tín ngưỡng, tôn gióa được pháp luật bảo hộ.
b. Nội dung quyền bình đẳng giữa các tôn giáo.
* Các tôn giáo được Nhà nước công nhận đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật.
*Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật được Nhà nước bảo đảm; các cơ sở tôn giáo hợp pháp được Nhà nước bảo hộ.
c. Ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các tôn giáo.
Quyền bình đẳng giữa các tôn giáo là cơ sở, tiền đề quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy tình đoàn kết gắn bó của nhân dân VN, tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc ta trong công cuộc xây dựng đất nước.
Bài 6: CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN TỰ DO CƠ BẢN
1.Các quyền tự do cơ bản của công dân
a. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
* Thế nào là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân ?
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân có nghĩa là không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
* Nội dung quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
- Không một ai, dù ở cương vị nào có quyền tự ý bắt và giam, giữ người vì những lí do không chính đáng hoặc do nghi ngờ không có căn cứ.
- Tự tiện bắt và giam, giữ người trái pháp luật là xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, là hành vi trái pháp luật, phải bị xử lí nghiêm minh theo pháp luật.
- Cán bộ nhà nước có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án và một số cơ quan khác mới có bắt và giam, giữ người, nhưng phải theo đúng trình tự, thủ tục theo qui định của pháp luật.
- Trong một số trường hợp cần thiết phải bắt, giam, giữ người thì phải theo đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
+ TH1: Viện kiểm sát, toà án trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật có quyền ra quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
+ TH2: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp.(những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được ra quyết định bắt)
+ TH3: Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. (ai cũng có quyền được bắt)
- Trong mọi trường hợp người ra lệnh bắt phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản để xét phê chuẩn. Quy định trong thời gian 12 giờ, nếu không có lệnh người bị bắt được thả tự do.
b. Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, tính mạng, danh dự và nhân phẩm của công dân:
* Thế nào là quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe,tính mạng, danh dự và nhân phẩm của công dân:
- Công dân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, được bảo vệ danh dự, nhân phẩm;
- Không ai được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác.
* Nội dung quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe , tính mạng, danh dự và nhân phẩm của công dân:
- Thứ nhất: Không ai được xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người khác.
Xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người khác là hành vi cố ý hoặc vô ý làm tổn hại đến tính mạng và sức khoẻ của người khác.
+Không ai được đánh người; đặc biệt nghiêm cấm những hành vi hung hãn, côn đồ đánh người gây thương tích.
+ Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác như giết người, đe dọa giết người, làm chết người.
- Thứ hai: Không được xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.
+ Không bịa đặc điều xấu, tung tin xấu, nói xấu xúc phạm người khác để hạ uy tín và gây thiệt hại về danh dự cho người đó.
+ Mọi hành vi xâm phạm đến danh dự và nhân phẩm công dân vừa trái với đạo đức xã hội, vừa vi phạm pháp luật.
BÀI 6. CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN TỰ DO CƠ BẢN
c. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở:
* Khái niệm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở
- Chỗ ở của công dân được nhà nước và mọi người tôn trọng.
- Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
- Chỉ trong trường hợp được pháp luật cho phép và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được khám xét chỗ ở của người khác.
- Việc khám xét phải được tiến hành đúng thủ tục, trình độ.
* Nội dung quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở
- Về nguyên tắc, việc cá nhân, tổ chức tự tiện vào chỗ ở của người khác, tự tiện khám chỗ ở của công dân là vi phạm pháp luật.
- Pháp luật cho phép khám xét chỗ ở của công dân trong các trường hợp sau:
+ Khi có căn cứ để khẳng định chỗ ở, địa điểm của người nào đó có công cụ, phương tiện tội phạm, hoặc có đồ vật liên quan đến vụ án.
+ Khi đang cần bắt người đang bị truy nã hoặc người phạm tội đang lẫn tránh ở đó.
- Tiến hành khám xét chỗ ở phải theo đúng trình tự và thủ tục.
- Khám chỗ ở đúng pháp luật là thực hiện khám trong những trường hợp pháp luật cho phép: chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của bộ luật Tố tụng Hình sự mới có quyền ra lệnh khám; người tiến hành khám phải thực hiện theo đúng thể thức pháp luật quy định.
d. Quyền được đảm bảo an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín.
* Khái niệm:
- Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín cá nhân được thực hiện trong trường hợp được pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được pháp luật bảo đảm an toàn và bí mật.
* Nội dung:
- Không ai tự tiện bóc, mở thư gửi. Tiêu huỷ thư, điện tín của người khác.
- Chỉ có những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp cần thiết mới có quyền kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín.
- Những người có hành vi trái pháp luật sẽ bị xử lí theo pháp luật. Tuỳ theo mức độ có thể xử lí hành chính hoặc hình sự.
*Ý nghĩa
Là điều kiện cần thiết để đảm bảo đời sống riêng tư của mỗi cá nhân. Trên cơ sở đó con người có cuộc sống tinh thần thoải mái mà không ai được tuỳ tiện xâm phạm.
e. Quyền tự do ngôn luận.
* Thế nào là quyền tự do ngôn luận?
Công dân có quyền tự do phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước.
* Nội dung quyền tự do ngôn luận.
- Quyền tự do ngôn luận của công dân được thực hiện ở các hình thwusc và phạm vi khác nhau:
+ Công dân trực tiếp phát biểu ý kiến nhằm xây dựng cơ quan, trường học, địa phương mình.
+ Viết bài gửi đăng báo để bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
+ Ung hộ cái đúng, cái tốt, phê phán cái sai, cái xấu trong đời sống xã hội.
+ Đóng góp ý kiến, kiến nghị với các Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong dịp tiếp xúc cử tri ở cơ sở, đề đạt nguyện vọng những vấn đề mình quan tâm.
* Ý nghĩa
- Là chuẩn mực của một xã hội mà trong đó nhân dân có tự do, dân chủ, quyền lực thực sự.
- Là cơ sở, điều kiện để công dân chủ động, tích cực tham gia chủ động vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội.
2. Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc đảm bảo và thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân.
a. Trách nhiệm của công dân.
- Công dân phải học tập, tìm hiểu để nắm được nội dung các quyền tự do cơ bản của mình .
- Công dân có trách nhiệm phê phán, đấu tranh, tố cáo những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền tự do cơ bản của công dân.
- Công dân tích cực tham gia giúp đỡ cán bộ nhà nước thi hành quyết định bắt người, khám người trong những trường hợp được pháp luật cho phép.
- Công dân cần tự rèn luyện, nâng cao ý thức pháp luật để sống văn minh, tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền tự do cơ bản của người khác.
BÀI 7: CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN DÂN CHỦ
1. Quyền bầu cử và quyền ứng cử vào các cơ quan đại biểu của nhân dân.
a. Khái niệm quyền bầu cử và quyền ứng cử.
Quyền bầu cử và quyền ứng cử là các quyền dân chủ cơ bản của công dân trong lĩnh vực chính trị, thông qua đó, nhân dân thực thi hình thức dân chủ gián tiếp ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước.
b. Nội dung quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại biểu của nhân dân.
Người có quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan đại biểu của nhân dân .
- Mọi công dân VN đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử.
- Đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.
- Công dân được hưởng quyền bầu cử, ứng cử bình đẳng, không phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp , thời hạn cư trú, trừ trường hợp pháp luật cấm.
* Cách thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân.
- Quyền bầu cử của công dân được thực hiện theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Phổ thông: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên trừ trường hợp pháp luật cấm.
Bình đẳng: Mỗi người có một lá phiếu, mỗi lá phiếu có giá trị ngang nhau.
Trực tiếp: Tự mình bầu và tự mình bỏ phiếu.
Bỏ phiếu kín: Bỏ vào thùng phiếu kín, đảm bảo tính bí mật.
HỌC SINH HIỂU KĨ HƠN ĐỂ PHÂN BIỆT TRONG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM VỀ CÁC NGUYÊN TẮC:
* Nguyên tắc phổ thông. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử.
Công dân đủ 18 tuổi được bầu cử, đủ 21 tuổi được ứng cử.
Nguyên tắc bình đẳng
Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,…
Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.
Nguyên tắc trực tiếp
Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.
Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín
Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.
Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín.
Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.
- Quyền ứng cử của công dân được thực hiện bằng hai con đường: tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử.
Điều kiện: Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên, có năng lực và tín nhiệm với cử tri.
c. Ý nghĩa của quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân.
- Đây là cơ sở pháp lí – chính trị quan trọng để hình thành các cơ quan quyền lực nhà nước , để nhân dân thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình thông qua đại biểu đại diện cho nhân dân.
- đảm bảo thực hiện quyền công dân, quyền con người trên thực tế.
2. Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội.
a. Khái niệm quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội.
- Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội là quyền của công dân tham gia thảo luận về các công việc chung của đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi cả nước và trong từng địa phương.
- Quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về xây dựng bộ máy nhà nước và xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội.
Là hình thức: Dân chủ trực tiếp.
b. Nội dung cơ bản của quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội.
* Ở phạm vi cả nước.
- Tham gia thảo luận, góp ý kiến xây dựng các văn bản pháp luật quan trọng, liên quan đến các quyền và lợi ích cơ bản của mọi công dân như Hiến pháp, Bộ luật Dân sự,...
- Góp ý kiến, phản ánh kịp thời những vướng mắc, bất cập, không phù hợp của chính sách, pháp luật để Nhà nước sửa đổi.
-Thảo luận và biểu quyết các vấn đề trọng đại khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
* Ở phạm vi cơ sở: dân chủ trực tiếp được thực hiện theo cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, theo Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở có 4 loại:
- Dân biết: Những việc phải được thông báo để dân biết và thực hiện (chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước)
- Dân bàn: Những việc dân bàn và quyết định trực tiếp bằng biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. (mức đóng góp xây dựng công trình phúc lợi công cộng hoặc cơ sở hạ tầng, xây dựng quy ước, hương ước,...)
- Dân làm: Những việc dân được thảo luận, tham gia ý kiến trước khi chính quyền xã quyết định. (dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của xã, kế hoạch sử dụng đất địa phương, đề án định canh định cư, giải phóng mặt bằng,...)
- Dân kiểm tra: Những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra. (dự toán ngân sách xã, thu chi quỹ, lệ phí; giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân địa phương, thanh kiểm tra vụ việc tiêu cực ở địa phương,...)
Nhân dân được thông tin đầy đủ về chính sách, pháp luật Nhà nước, trên cơ sở đó bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc thiết thực ở nơi họ sống.
c. Ý nghĩa của quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội.
Đây là cơ sở pháp lí quan trọng để nhân dân tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước, tham gia tích cực vào mọi lĩnh vực của quản lí nhà nước và xã hội, làm cho đất nước ngày càng phát triển thịnh vượng và văn minh.
3. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
a.Thế nào là quyền khiếu nại, tố cáo của công dân?
Là quyền dân chủ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ để nhân dân thực hiện dân chủ trực tiếp trong những trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị hành vi trái pháp luật xâm hại
b. Nội dung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
*Quyền khiếu nại:
- Khái niệm: Quyền khiếu nại là quyền của công dân, cơ quan, tổ chức được đề nghị cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Mục đích: Khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Người có quyền khiếu nại: Cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại.
- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo luật Khiếu nại và Tố cáo.
+ Người đứng đầu cơ quan hành chính có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại.
+ Người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan hành chính có quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thứ trưởng cơ quan ngang bộ, Trưởng thanh tra chính phủ.
- Quy trình:
+ B1: Nộp đơn khiếu nại đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.
+ B2: Người giải quyết khiếu nại xem xét giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền và thời gian do luật định.
+ B3: Nếu người khiếu nại đồng ý với kết quả giải quyết thì quyết định của người giải quyết có hiệu lực.
+ B4:Người giải quyết khiếu nại lần 2 xem xét, giải quyết yêu cầu của người khiếu nại. Nếu lần hai người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân.
* Quyền tố cáo:
- Khái niệm: Quyền tố cáo là quyền của công dân được báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Mục đich: Phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật.
- Người có quyền tố cáo: Chỉ có công dân.
- Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo: Cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo theo luật Khiếu nại và Tố cáo.
+ Người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lí người bị tố cáo.
+ Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức có người bị tố cáo.
+ Chánh Thanh tra các cấp, Tổng thanh tra Chính phủ.
+ Các cơ quan tố tụng (Điều tra, Kiểm sát, Toà án) nếu hành vi tố cáo có dấu hiệu hình sự.
- Quy trình:
+ B1: Người tố cáo gửi đơn tố cáo đến tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
+ B2: Người giải quyết tố cáo xác định và ra quyết định về nội dung tố cáo, xử lí hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền đối với người vi phạm.
+ B3: Nếu người tố cáo căn cứ vào việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật, Người tố cáo có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức cấp trên của người giải quyết tố cáo.
+ B4: Cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết tố cáo lần 2 có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn luật định.
c.Ý nghĩa:
- Là quyền dân chủ quan trọng trong đời sống công dân
- Là cơ sở pháp lí để công dân thực hiện một cách có hiệu quả quyền công dân của mình
- Để bảo vệ quyền và lwoij ích hợp pháp của công dân, ngăn chặn những việc làm trái pháp luật, xâm phạm lợi ích Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
- Quyền công dân đảm bảo bộ máy nhà nước được củng cố trong sạch, vững mạnh.
4. Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc thực hiện các quyền dân chủ của công dân:
a. Trách nhiệm của Nhà nước:
- Quốc hội ban hành Hiến pháp và các luật làm cơ sở pháp lí cho sự hình thành chế độ dân chủ trực tiếp và gián tiếp.
- Chính phủ và chính quyền các cấp là cơ quan tổ chức thi hành Hiến pháp và luật, đảm bảo quyền dân chủ cho công dân.
- Toà án và cơ quan tư pháp bảo vệ quyền dân chủ của công dân thông qua việc phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh mọi hành vi vi phạm.
b. Trách nhiệm của công dân:
- Sử dụng đúng các quyền dân chủ của mình
- Không lạm dụng quyền dân chủ để làm trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, xâm phạm trật tự , an toàn xã hội, lợi ích nhà nước
Bài 8: PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG DÂN
1. Quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân
a) Quyền học tập của công dân
* Khái niệm:
Học tập là một trong những quyền cơ bản của con người, của công dân: đều có quyền học từ thấp đến cao, có thể học bất cứ ngành,nghề nào, có thể học bằng nhiều hình thức và có thể học thường xuyên, học suốt đời.
* Nội dung:
+ Mọi công dân đều có quyền học không hạn chế, (học từ thấp đến cao) từ Tiểu học đến Trung học, Đại học và Sau đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục, thông qua các kỳ thi tuyển sinh hoặc xét tuyển.
+ Công dân có thể học bất cứ ngành nghề nào phù hợp với năng khiếu, khả năng, sở thích và điều kiện của mình.
+ Công dân có quyền học thường xuyên, học suốt đời. Quyền học tập này của công dân có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và ở các loại hình trường lớp khác nhau. Như: hệ đào tạo từ xa, tại chức, hệ chính quy, hệ giáo dục thường xuyên,...
+ Mọi công dân đều được đối xử bình đẳng về cơ hội học tập. Quyền này của công dân không bị phân biệt bởi dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế.
b) Quyền sáng tạo của công dân
* Khái niệm
- Quyền của mỗi người được tự do nghiên cứu khoa học, tự do tìm tòi, suy nghĩ để đưa ra các phát minh, sáng chế, sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lí hóa sản xuất.
- Quyền về sáng tác văn học, nghệ thuật, khám phá khoa học để tạo ra các sản phẩm, công trình khoa học về các lĩnh vực đời sống xã hội.
* Nội dung
Công dân có quyền sáng tạo ra:
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
- Tác phẩm báo chí.
- Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa.
- Tạo ra các sản phẩm mang tính sáng tạo trong hoạt động khoa học, công nghệ.
Công dân được bảo vệ sản phẩm bằng quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền tham gia các hoạt động khoa học công nghệ.
- Pháp luật một mặt khuyến khích quyền sáng tạo của công dân, mặt khác luôn bảo vệ quyền sáng tạo của công dân.
c) Quyền được phát triển của công dân
* Khái niệm
- Quyền được phát triển là quyền của công dân được sống trong môi trường xã hội và tự nhiên có lợi cho sự tồn tại và phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức.
- Có mức sống đầy đủ về vật chất.
- Được học tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tham gia các họat động văn hóa.
- Đuợc cung cấp thông tin và chăm sóc sức khỏe
- Được khuyến khích, bồi dưỡng để phát triển tài năng.
* Nội dung
- Quyền của công dân được hưởng đời sống vật chất và tinh thần đầy đủ để phát triển toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước .
Ví dụ:
Vật chất: Có mức sống đầy đủ, điều kiện nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, hưởng sự chăm sóc y tế, đặc biệt trẻ em được hưởng sự chăm sóc sức khoẻ ban đầu và phòng bệnh.
Tinh thần: tiếp cận phương tiện thông tin đại chúng phong phú và hấp dẫn, được vui chơi, giải trí, tham gia vào các hoạt động văn hoá,...
- Công dân có quyền được khuyến khích, bồi dưỡng để phát triển tài năng.
Ví dụ: Người sơm phát triển về trí tuệ được quyền học trước tuổi, học vượt lớp, học rút ngắn thời gian so với quy định. Người học giỏi có năng khiếu được ưu tiên tuyển chọn vào các trường đại học (đạt giải kì thi quốc gia, quốc tế).
2. Ý nghĩa quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân
- Quyền học tập, sáng tạo và phát triển là quyền cơ bản của công dân, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội ta, là cơ sở, điều kiện cần thiết để con người được phát triển tòan diện
- Quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân nhằm đáp ứng và bảo đảm nhu cầu học tập của mỗi người, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
3. Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân
a) Trách nhiệm của Nhà nước
Ban hành chính sách, pháp luật, thực hiện đồng bộ các biện pháp cần thiết để các quyền này thực sự đi vào đời sống của mỗi người dân.
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Thông qua chính sách về học phí, học bổng để giúp đỡ, khuyến khích người học, đặc biệt là học sinh thuộc diện chính sách.
Nhà nước khuyến khích, phát huy sự tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, có chính sách chăm lo điều kiện làm việc, lợi ích vật chất và tinh thần của người nghiên cứu, phát minh và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Nhà nước bảo đảm những điều kiện để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo điều kiện cho những người học giỏi, có năng khiếu được phát triển.
b) Trách nhiệm của công dân
Có ý thức học tập tốt để có kiến thức, xác định mục đích học tập là học cho mình, cho gia đình và cho đất nước để trở thành người có ích trong cuộc sống.
Có ý chí vươn lên, luôn chịu khó tìm tòi và phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm vật chất và tinh thần cần thiết cho xã hội
Bài 9: PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC
1. Nội dung cơ bản của pháp luật về sự phát triển bền vững của đất nước
a) Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển kinh tế
* Khái niệm
Tự do kinh doanh có nghĩa là mọi công dân khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định đều có quyền tiến hành họat động kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng kí kinh doanh.
* Nội dung
Công dân có quyền tự mình lựa chọn và quyết định kinh doanh mặt hàng nào, quy mô kinh doanh lớn hay nhỏ, tổ chức theo hình thức nào.
* Nghĩa vụ
Khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, công dân phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật:
Kinh doanh đúng ngành, nghề ghi trong giấy phép kinh doanh và những ngành, nghề mà pháp luật không cấm
Nộp thuế đầy đủ theo quy định của pháp luật
Bảo vệ môi trường
- Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Tuân thủ các quy định về quốc phòng, an ninh, trật tự, an tòan xã hội v.v…
b) Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển văn hóa (đọc thêm).
c) Một số nội dung cơ bản của pháp luật trong phát triển các lĩnh vực xã hội
- Pháp luật khuyến khích các cơ sở kinh doanh bằng nhiều giải pháp, tạo ra nhiều việc làm mới cho những người đang trong độ tuổi lao động
- Pháp luật quy định, Nhà nước sử dụng các biện pháp kinh tế - tài chính để thực hiện xóa đói, giảm nghèo bằng cách tăng nguồn vốn xóa đói, giảm nghèo để sản xuất – kinh doanh
- Pháp luật có những quy định nhằm kiềm chế sự gia tăng nhanh dân số, góp phần làm cho kinh tế xã hội phát triển lành mạnh
- Trong vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội, pháp luật quy định về đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự, kỉ cương xã hội, ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là nạn mại dâm, ma túy; ngăn chặn tiến tới đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS, xây dựng lối sống văn minh, lành mạnh.
d. Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường
- Pháp luật quy định các nguyên tắc về bảo vệ môi trường
- Pháp luật quy định các hoạt động bảo vệ môi trường chủ yếu gồm:
+ Bảo tồn và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
+ Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
+ Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
+ Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác
+ Quản lí chất thải
+ Phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường
- Pháp luật xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước, của các tổ chức và moi công dân trong bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời trừng trị nghiêm khắc các hành vi phá hoại rừng.
- Pháp luật nghiêm cấm các hành vi
+ Phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
+ Các hành vi khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ hủy diệt.
+ Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã, quý hiếm thuộc danh mục cấm
+ Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nới quy định.
+ Thải chất thải chưa được xử lý, các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất và nguồn nước...
e. Nội dung cơ bản của pháp luật về quốc phóng an ninh.
- Pháp luật quy định củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ của toàn dân mà nòng cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
- Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia củng cố quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia.
- Mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đều phải bị xử lí nghiêm minh, kịp thời.
- Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Nhà nước ban hành chế độ nghĩa vụ quân sự, thực hiện giáo dục quốc phòng trong các cơ quan, tổ chức và đối với mọi công dân; tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét